Liên hệ
Hệ Thống Kệ Tự Động Giúp Nâng Cao Hiệu Suất Kho
Hệ thống kệ tự động giúp tối ưu hóa kho hàng, tăng hiệu suất, giảm chi phí và nâng cao độ chính xác. Khám phá các loại kệ tự động và xu hướng tương lai.
- SP






Hệ thống kệ để hàng đôi double deep pallet racking là một giải pháp lưu trữ được thiết kế để xếp các pallet hàng hóa thành hai hàng liền kề thay vì chỉ một hàng như thông thường, qua đó tăng gấp đôi khả năng chứa hàng trong cùng một diện tích nhà kho. Hệ thống này vô cùng phù hợp với các doanh nghiệp sở hữu lượng lớn sản phẩm giống nhau và mong muốn tối ưu hóa không gian lưu trữ bằng cách tăng mật độ hàng hóa có thể chứa trong kho của họ. Khi sử dụng kệ để hàng đôi, việc truy xuất sản phẩm sẽ trở nên ít linh hoạt hơn một chút so với kệ một hàng thông thường nhưng bù lại, nó cung cấp một giải pháp hiệu quả để tăng cường sức chứa cho những sản phẩm có tính chất không đòi hỏi quá cao về tần suất lấy hàng thường xuyên.
Khi kho đã chật, phản xạ đầu tiên của nhiều đơn vị là thuê thêm diện tích. Nhưng trước khi trả thêm tiền mặt bằng, có một câu hỏi rẻ hơn nhiều đáng được đặt ra: lưới kệ hiện tại đang tiêu tốn bao nhiêu phần trăm sàn cho lối đi? Ở phần lớn kho dùng giá kệ pallet selective (single deep) truyền thống, lối đi xe nâng chiếm một tỷ trọng rất lớn diện tích khai thác. Giá kệ pallet đôi – double deep – ra đời chính là để tấn công vào phần diện tích đó: xếp hai pallet nối tiếp nhau theo chiều sâu, nhờ vậy cắt bớt số lối đi cần thiết trên cùng một mặt bằng.
Trên website của Long Quyền đã có những bài phân tích riêng về nguyên lý vận hành và hiệu quả mật độ của double deep. Bài viết này cố ý đi theo một góc khác và hẹp hơn: góc của người vẽ mặt bằng. Cụ thể là ba việc: cách tính lại lưới kệ khi chuyển từ single deep sang double deep, cách cân đo đánh đổi giữa mật độ lưu trữ và khả năng truy xuất, và quy tắc gom nhóm SKU theo lô sao cho hệ double deep không biến thành nơi kẹt hàng.


Rất nhiều dự án double deep thất bại không phải vì kệ yếu hay xe nâng kém, mà vì mặt bằng được vẽ theo tư duy single deep rồi "nhét" thêm một hàng pallet vào phía sau. Kết quả là kho có thêm vị trí pallet nhưng thao tác chậm hơn, tỷ lệ ô trống ẩn tăng lên, và thủ kho phải liên tục đảo hàng.
Bản chất của double deep là một phép hoán đổi: bạn đổi khả năng truy xuất trực tiếp lấy diện tích sàn. Trong hệ single deep, mọi pallet đều nằm ở mặt tiền lối đi, độ chọn lọc gần như tuyệt đối. Trong hệ double deep, một nửa số pallet nằm ở vị trí phía trong và chỉ có thể lấy ra sau khi pallet phía ngoài được dời đi. Phép hoán đổi đó chỉ có lãi khi cấu trúc hàng hóa của bạn cho phép – nghĩa là khi mỗi SKU có đủ số pallet để lấp trọn một khoang đôi, và khi thứ tự xuất hàng không đòi hỏi độ chính xác theo từng pallet riêng lẻ.
Cách tiếp cận đúng là làm việc trên đơn vị lặp của mặt bằng, thường gọi là module hay bước lặp. Module là một tổ hợp gồm dãy kệ cộng lối đi phục vụ nó. Toàn bộ hiệu quả của double deep nằm ở việc module mới rộng hơn nhưng chứa nhiều pallet hơn theo tỷ lệ tốt hơn.
Với hệ single deep, module điển hình gồm: một chiều sâu dãy kệ (thường xấp xỉ chiều sâu pallet, tham khảo khoảng 1.000–1.200 mm tùy hướng đặt pallet) cộng một nửa lối đi ở mỗi phía nếu lối đi được chia sẻ giữa hai dãy quay lưng vào nhau. Hãy đo thực tế, đừng lấy bản vẽ cũ: nhiều kho đã bị lấn lối đi bởi khu vực staging tự phát.
Chuyển sang double deep nghĩa là hai dãy đơn quay lưng vào nhau được thay bằng một khối kép đặt liền, và lối đi giữa chúng bị xóa bỏ. Đây chính là nguồn gốc của phần sàn tiết kiệm được. Chiều sâu khối kép tham khảo khoảng 2.100–2.500 mm tùy thiết kế, đã tính khe hở giữa hai pallet và khe hở với khung.
Xe nâng phục vụ double deep cần không gian thao tác lớn hơn xe nâng reach truck thông thường. Dải tham khảo cho lối đi làm việc thường nằm trong khoảng 2.700–3.200 mm, tùy thiết kế, tùy model xe và tùy chiều cao nâng. Đây là khoản "chi phí" phải trừ đi khỏi phần diện tích vừa tiết kiệm được ở Bước 2.
Chỉ số cần so sánh không phải là "số vị trí pallet trên toàn kho" mà là số vị trí pallet trên mỗi mét vuông module. Cách so sánh này loại bỏ ảnh hưởng của hình dạng nhà xưởng và cho phép đánh giá công bằng giữa các phương án.
| Tiêu chí quy hoạch | Single deep (selective) | Double deep |
|---|---|---|
| Chiều sâu khối kệ (tham khảo, tùy thiết kế) | khoảng 1.000–1.200 mm | khoảng 2.100–2.500 mm |
| Lối đi làm việc (tham khảo, tùy thiết kế) | khoảng 2.500–2.900 mm với reach truck | khoảng 2.700–3.200 mm với xe càng vươn sâu |
| Số lối đi trên cùng chiều ngang kho | Nhiều | Giảm rõ rệt |
| Tỷ lệ sàn dành cho lối đi | Cao | Thấp hơn đáng kể |
| Độ chọn lọc (truy xuất trực tiếp) | Gần như toàn bộ pallet | Khoảng một nửa số pallet ở mặt ngoài |
| Số SKU tối đa phù hợp | Rất cao | Trung bình, ưu tiên SKU nhiều pallet |
| Nguyên tắc xuất hàng tự nhiên | FIFO dễ đạt | LIFO trong khoang, FIFO theo lô |
| Yêu cầu độ phẳng nền | Tiêu chuẩn | Khắt khe hơn do nâng sâu và cao |
| Độ nhạy với sai lệch định vị pallet | Thấp | Cao, cần dẫn hướng và kỷ luật vận hành |

Mọi hệ lưu trữ mật độ cao đều tồn tại một điểm mà ở đó việc thêm mật độ bắt đầu làm giảm năng suất tổng thể. Với double deep, điểm đó xuất hiện khi số lần thao tác kép – tức phải dời pallet ngoài để lấy pallet trong – vượt quá ngưỡng chấp nhận được của ca làm việc.
Trong hầu hết dự án mà đội kỹ thuật Long Quyền tham gia khảo sát, phương án hiệu quả nhất thường là lưới lai. Khu vực sát cửa xuất được giữ ở single deep để phục vụ nhóm SKU vòng quay nhanh và các đơn lẻ pallet; phần lõi kho và các dãy sát tường chuyển sang double deep cho nhóm hàng dự trữ. Việc phân vùng này nên được vẽ ngay từ bản quy hoạch đầu tiên, vì đổi cấu hình sau khi đã lắp đặt sẽ tốn kém hơn nhiều.
Đây là phần quyết định thành bại, và cũng là phần thường bị bỏ qua nhất. Kệ chỉ là khung thép; thứ khiến double deep chạy trơn tru là kỷ luật gán vị trí.
Không đặt hai lô khác nhau trong cùng một khoang theo chiều sâu. Nếu pallet phía trong thuộc lô cũ hơn pallet phía ngoài, mọi yêu cầu xuất theo FIFO sẽ tạo ra một thao tác kép bắt buộc. Ngược lại, nếu cả khoang cùng một lô, thứ tự lấy ra bên trong khoang không còn ý nghĩa nghiệp vụ.
Khi lập kế hoạch nhận hàng, hãy quy đổi số lượng đặt hàng về bội số của sức chứa một khoang đôi. Một lô hàng 9 pallet trong hệ double deep sẽ để lại một khoang lẻ; lô 10 pallet lấp trọn 5 khoang. Chỉ riêng việc điều chỉnh quy cách đặt hàng đã cải thiện đáng kể tỷ lệ lấp đầy mà không tốn thêm chi phí đầu tư.
Nhóm hàng vòng quay nhanh nên nằm ở các tầng thấp và gần đầu dãy để rút ngắn chu trình. Nhóm hàng chậm, hàng dự phòng, hàng mùa vụ đặt ở tầng cao và các dãy sâu. Cách phân tầng này giúp giảm tổng quãng đường của xe nâng và bù lại phần thời gian tăng thêm do thao tác vươn sâu.
Hệ thống quản lý kho nên khóa vị trí phía trong ngay khi vị trí phía ngoài của khoang đó được gán cho một SKU hoặc lô khác. Nếu không có phần mềm, hãy thay thế bằng quy ước dán nhãn màu theo lô ở đầu khoang – biện pháp thủ công nhưng hiệu quả với kho vừa và nhỏ.
Đặt lịch định kỳ để gom các khoang chỉ còn một pallet về cùng khu vực, giải phóng khoang trống nguyên vẹn cho lô nhập mới. Việc này nên làm vào ca thấp điểm, tương tự nguyên tắc chống phân mảnh trong lưu trữ dữ liệu.
Mỗi dãy double deep chỉ được phục vụ từ một phía. Sơ đồ mặt bằng và vạch sơn nền cần thể hiện rõ chiều thao tác, tránh trường hợp hai ca làm việc nạp hàng từ hai phía đối diện vào cùng một khối kệ.

Tăng mật độ đồng nghĩa với việc tải trọng phân bố trên sàn tăng theo. Trước khi chốt lưới kệ, cần kiểm tra khả năng chịu tải của nền và độ phẳng, đặc biệt tại vị trí chân khung. Với các hệ vươn sâu và nâng cao, sai lệch độ phẳng nhỏ ở mặt sàn sẽ bị khuếch đại ở độ cao đỉnh càng.
Về thông số kết cấu, các dải tham khảo thường gặp và luôn phụ thuộc vào thiết kế cụ thể: chiều cao hệ khoảng 6–12 m tùy nhà xưởng; tải trọng mỗi cặp thanh beam khoảng 1.500–4.000 kg tùy khẩu độ và loại thép; khoảng cách tầng bố trí theo chiều cao hàng thực tế cộng khoảng hở nâng. Long Quyền tính toán các thông số này theo hồ sơ hàng hóa và bản vẽ nhà xưởng của từng dự án, không áp dụng một cấu hình mặc định cho mọi kho.
Với năng lực sản xuất tại nhà máy KCN Xuân Phương và đội ngũ kỹ thuật tại văn phòng 79 Đào Tấn, Hà Nội, Long Quyền hỗ trợ khách hàng từ bước khảo sát mặt bằng, dựng phương án lưới kệ, đến sản xuất và lắp đặt hoàn thiện. Điều quan trọng nhất cần nhớ: double deep không phải là loại kệ đắt hơn hay tốt hơn, mà là một quyết định quy hoạch. Khi mặt bằng, hồ sơ hàng hóa và quy tắc vận hành cùng đồng thuận, phần diện tích lối đi tiết kiệm được sẽ chuyển hóa thành năng lực lưu trữ thực sự dùng được.
Một phần khung và beam có thể tái sử dụng nếu tình trạng thép còn tốt và cấu hình tải phù hợp, nhưng bố cục mặt bằng gần như phải vẽ lại toàn bộ vì chiều sâu khối kệ và bề rộng lối đi đều thay đổi. Cần đánh giá lại tải trọng theo khẩu độ mới trước khi quyết định tái sử dụng.
Không có ngưỡng cố định. Tiêu chí thực tế hơn là số pallet trung bình trên mỗi SKU: khi con số này đạt từ khoảng bốn pallet trở lên và hàng luân chuyển theo lô, double deep thường phát huy hiệu quả. Kho nhiều SKU nhưng mỗi SKU chỉ vài pallet nên giữ single deep hoặc dùng lưới lai.
Không bắt buộc. Trong từng khoang, thao tác diễn ra theo LIFO, nhưng nếu mỗi khoang chỉ chứa một lô thì FIFO vẫn được bảo toàn ở cấp độ lô – vốn là cấp độ mà phần lớn nghiệp vụ kho thực sự cần.
Mức cải thiện phụ thuộc hoàn toàn vào hình dạng nhà xưởng, lưới cột, bề rộng lối đi mới và tỷ lệ lấp đầy khoang, nên không thể nêu một con số chung. Cách đánh giá đúng là dựng phương án lưới trên bản vẽ thực tế rồi so sánh số vị trí pallet trên mỗi mét vuông module giữa các phương án.
Nền phải đủ khả năng chịu tải tại chân khung và đạt độ phẳng theo yêu cầu của loại xe nâng sử dụng. Yêu cầu này khắt khe hơn so với hệ single deep vì thao tác vươn sâu ở độ cao lớn khuếch đại mọi sai lệch của mặt sàn. Việc kiểm tra nên thực hiện trước khi chốt chiều cao hệ.
Thông thường là không nên. Phương án lai – giữ single deep cho khu vực hàng vòng quay nhanh gần cửa xuất và dùng double deep cho vùng dự trữ – cho kết quả cân bằng hơn giữa mật độ và tốc độ thao tác. Ranh giới giữa hai vùng nên được xác định ngay từ bản quy hoạch đầu tiên.
Hotline:0903 422 179 (Mr. Đạt) – 0903 412 296 (Mr. Hiển) – 0903 434 374 (Mr. Cẩm)
Email:contact@giakelongquyen.com – contact@longquyen.com
Văn phòng: 79 Đào Tấn, Hà Nội, Việt Nam · Tel: 84-24-37260098 · Fax: 84-24-32115955
Nhà máy: KCN Xuân Phương, Hà Nội, Việt Nam
Đăng ký nhận báo giá mới nhất:
CÔNG TY TNHH SX & TM LONG QUYỀN